Điều trị viêm phế quản mãn tính

Sơ lược về viêm phế quản và phương pháp điều trị viêm phế quản mãn tính 

      viem-phe-quan Viêm phế quản mãn tính là một tình trạng viêm tăng tiết nhầy mạn tính của niêm mạc phế quản, gây ho và khạc đờm liên tục hoặc tái phát từng đợt ít nhất 3 tháng trong một năm và ít nhất là 2 năm liền.
Định nghĩa này loại trừ các bệnh gây ho khạc mạn tính khác: lao phổi, giãn phế quản …

 Phân loại

  – Viêm phế quản mạn tính đơn thuần: chỉ ho và khạc đờm, chưa có rối loạn thông khí phổi, có thể điều trị khỏi.
  – Viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn: triệu chứng chính là khó thở, do tắc nghẽn lan rộng và thường xuyên của phế quản. Còn gọi là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)

  – Viêm phế quản mạn tính nhầy mủ: ho và khạc đờm nhầy từng đợt kịch phát hoặc liên tục.

Nguyên nhân và bệnh sinh

  – Hút thuốc lá, thuốc lào: 88% số người nghiện hút thuốc bị viêm phế quản mạn tính. Khói thuốc lá làm giảm vận động tế bào có lông của niêm mạc phế quản, ức chế chức năng đại thực bào phế nang, làm phì đại và quá sản các tuyến tiết nhầy, làm bạch cầu đa nhân giải phóng men tiêu Protein. Khói thuốc lá còn làm co thắt cơ trơn phế quản.
  – Bụi ô nhiễm: SO2, NO2, bụi công nghiệp, khí hậu ẩm ướt, lạnh.
  – Nhiễm khuẩn: vi khuẩn, virus, những ổ viêm nhiễm ở đường hô hấp trên và viêm phế quản cấp là cơ sở thuận lợi cho viêm phế quản mạn tính phát triển.
  – Cơ địa và di truyền: dị ứng, người có nhóm máu A dễ bị viêm phế quản mạn tính, Thiếu hụt IgA, hội chứng rối loạn vận động rung mao tiên phát, giảm a1Antitripsin.
   – Yếu tố xã hội: cuộc sống nghèo nàn, lạc hậu.
   – Cơ chế bệnh sinh chủ yếu do:
     + Biến đổi chất gian bào.
     + Mất cân bằng giữa Proteaza và kháng Proteaza.
     + Mất cân bằng giữa hệ thống chống oxy hoá và chất oxy hoá.

Triệu chứng lâm sàng

  – Thường ở người trên 40 tuổi, nghiện thuốc lá, thuốc lào. Thường xuyên ho khạc về buổi sáng. Đờm nhầy trong, dính hoặc màu xanh, vàng đục, mỗi ngày không quá 200ml. Mỗi đợt kéo dài 3 tuần, tăng về mùa đông và đầu mùa thu.
  – Đợt bùng phát của viêm phế quản mạn tính, thường xảy ra ở người già, yếu, do bội nhiễm. Có thể sốt, ho, khạc đờm và khó thở, có thể tử vong do suy hô hấp và tâm phế mạn.
  – Ở người mắc bệnh lâu năm (bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính), lồng ngực biến dạng hình thùng, hình phễu, khó thở rút lõm cơ hô hấp, rút lõm kẽ gian sườn, phần đáy bên của lồng ngực co hẹp lại khi hít vào (dấu hiệu Hoover), rút lõm hõm ức, khí quản tụt xuống khi hít vào (dấu hiệu  Campbell). Gõ phổi vang trầm, nghe rì rào phế nang giảm, tiếng thở thanh-khí-phế quản giảm hoặc thô ráp, có thể có ran rít, ran ngáy và ran ẩm. Có thể có hội chứng ngừng thở khi ngủ, mạch đảo nghịch (chênh lệch huyết áp tâm thu khi hít vào và thở ra ≥ 10mmHg) cao áp động mạch phổi và tâm phế mạn.

 Chẩn đoán

Chẩn đoán xác định

  Dựa vào tiêu chuẩn trong định nghĩa và triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng.
Chẩn đoán phân biệt
  – Lao phổi:  ho kéo dài, X quang có hình ảnh “phổi bẩn”.
  – Giãn phế quản: ho và khạc đờm nhiều. Nhưng < 200 ml/24 giờ.
  – Hen phế quản: cần chẩn đoán phân biệt với viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn, dùng test xịt Salbutamol 200 – 300 mg và đo FEV1, nếu FEV1 tăng không quá 15% là viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn.
  – Ung thư phế quản: ho kéo dài. Xquang có hình ảnh u hoặc hạch chèn ép.
  – Khí phế thũng: khi viêm phế quản mạn tính chưa biến chứng khí phế thũng.
Có thể căn cứ vào bảng sau để chẩn đoán:

Khí phế thũng Viêm phế quản mạn tính.
Khó thở: nặng Vừa
Ho: có sau khó thở Có trước khó thở
Viêm đường thở: ít Thường xuyên
Suy hô hấp: giai đoạn cuối Từng đợt cấp
X quang: giãn phổi, tăng sáng Hình ảnh “Phổi bẩn”
Sức cản đường thở (Raw):           tăng nhẹ Tăng nhiều.

Tiến triển và biến chứng của viêm phế quản mạn tính

  – Tiến triển: từ từ nặng dần 5-20 năm, nhiều đợt bùng phát dẫn đến biến chứng khí phế thũng và tâm phế mạn, suy hô hấp.
  – Biến chứng: 
     + Khí phế thũng trung tâm tiểu thuỳ.
     + Tâm phế mạn, cao áp động mạch phổi.
     + Bội nhiễm: viêm phổi, áp xe phổi, lao phổi…
     + Suy hô hấp: cấp và mạn.

Điều trị viêm phế quản mạn tính

Đối với viêm phế quản mạn tĩnh, không có tắc nghẽn:
  Cần dự phòng bằng cách:

 Bỏ hút thuốc, tránh lạnh, tránh bụi, phòng chống nhiễm khuẩn đường hô hấp trên bằng súc họng, nhỏ mũi. Tiêm vacxin đa giá: Rhibomunyl, phòng chống cúm. Điều trị tốt bệnh tai mũi họng. Dùng vitamin A, C, E (chống oxy hoá).
  – Khi có bội nhiễm phế quản:
     + Dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ. 
     + Hoặc dùng kháng sinh loại Gram (+) Tetraxyclin 1 g/ngày hoặc Ampixilin 1 g/ngày, hoặc Erythromyxin. Có thể phối hợp cả 2 nhóm trên.
  – Có thể dùng kháng sinh mạnh: Rulid 150 mg x 2v / 24giờ hoặc       Rovamyxin  3 tr UI / 24 giờ .
     + Long đờm: Natribenzoat 3% x 20 ml/24giờ, hoặc Acemuc, Bisorven, Mucosolvan, RhDnase.
     + Vỗ rung và dẫn lưu theo tư thế. Ngày 2-3 lần. Mỗi lần 15 phút-30 phút.
     + Chống co thắt phế quản: xịt Salbutamol hoặc uống Theophylin, nếu nhiều đờm xịt Atrovent.
Đối với viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn ( COPD)
  Ngoài các biện pháp trên cần thêm:

     + Chống viêm bằng nhóm Corticoid: xịt Budesonide (Pulmicort)  hoặc uống Prednisolon 30 mg/ngày, giảm liều dần hoặc tiêm truyền tĩnh mạch.
     + Thở Oxy, thở máy, đặt nội khí quản hút rửa, chống suy tim khi có tâm phế mạn.
  – Ngoài đợt bùng phát: cần điều trị dự phòng và tập thở bụng

Tìm hiểu về viêm phế quản mạn tĩnh và cách điều trị viêm phế quản mãn tính theo Y Học Cổ Truyền

      Viêm phế quản là bệnh hay gặp thuộc phạm vi chứng khái thấu, đàm ẩm của Y Học Cổ Truyền được chia làm 2 thể viêm phế quản cấp tính và viêm phế quản mạn tính.

Nguyên Nhân

  • Do ngoại Cảm Phong hàn, Phong nhiệt và Khí táo: Phong hàn và phong nhiệt xâm phạm vào cơ thể làm phế khí mất khả năng tuyên giáng gây ho, đờm nhiều. Khí táo về mùa thu làm tân dịch của phế bị giảm sút gây ho khan ngứa họng. về nội thương do công năng ba tạng phế, tỳ, thận bị giảm sút, hàn thấp thương tỳ sinh đàm ẩm, nhiệt thương phế làm phế thận âm hư, đều đưa đến ho, đờm nhiều.

 Viêm Phế Quản Cấp

 Thường do phong hàn, phong nhiệt và khí táo gây ra

  • Phong Hàn

       Giai đoạn đầu của phế quản cấp với các triệu chứng: ho ra đờm loãng, trắng, dễ khạc: sốt sợ lạnh, nhức đầu, chảy nước mũi, ngứa cổ, khản tiếng rêu lưỡi mỏng, mạch phù. Phương pháp chữa viêm phế quản cấp là: sơ phong tán hàn, tuyên phế ( chữa ho, trừ đờm).

  • Phong nhiệt

    Gặp ở viêm phế quản cấp và viêm đợt cấp của viêm phế quản mạn với các triệu chứng: ho khạc ra nhiều đờm màu vàng, trắng dín, họng khô, họng đau, sốt, nhức đầu, sợ gió, rêu lưỡi mỏng vàng, mạch phù sác. Phương pháp chữa: sơ phong thanh nhiệt, tuyên phế ( chữa ho, trừ đờm).

  •  Khí táo

     Gặp ở viêm phế quản cấp tính thuộc mùa thu, trời lạnh. Triệu chứng: ho khan nhiều, ngứa họng, miệng khô, hộng khô, nhức đầu mạch phù sác. Phương pháp chữa: thanh phế nhuận táo, chỉ khái.

Viêm phế quản mạn tính

     Đợt cấp tính của viêm phế quản mạn tính thường được chữa như viêm phế quản cấp tính. Nếu không có đợt cấp thì chia làm 2 thể như sau:

  •  Đàm Thấp

         Ho hay tái phát, trời lạnh ho tăng, đờm dễ khạc, sắc trắng loãng hoặc thành cục dính, buổi sáng ho nhiều ngực đầy tức, kém ăn, rêu lưỡi trắng dính, mạch nhu hoạt. Phương pháp chữa viêm phế quản mãn tính là: táo thấp hóa đàm chỉ khái.

  • Hàn ẩm

       Hay gặp ở viêm phế quản mạn tính kèm theo giãn phế nang ở người già giảm chức năng hô hấp, tâm phế mạn… với các triệu chứng ho hay tái phát, thở suyễn nhiều rên ẩm, trời lạnh ho tăng, đờm nhiều loãng trắng, sau khi vận động các triệu chứng trên càng rõ ràng hơn, có thể không nằm được, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng trơn, mạch tế nhược Phương pháp chữa viêm phế quản mãn tính là: ôn phế hóa đàm. 

siro-tpcn-pqa-75k

TS. Phùng Hoà Bình – ĐH. Y Dược Hà Nội  tư vấn chữa viêm phế quản bằng Siro Ho Hen PQA

bao-suc-khoe-siro-ho-hen

Hotline 0904.032.499 Tư vấn và chăm sóc sức khoẻ miễn phí 24/7

Nguồn: Sưu tầm bởi PQA

Bình luận

error: Content is protected !!